Trần Quốc Hương: người chỉ huy tình báo – 2


Trần Quốc Hương: người chỉ huy tình báo

2.

Bị Pháp bắt năm 1941

Nguyễn Thị Ngọc Hải


Hình như nhiều cán bộ cách mạng Việt Nam có khởi điểm giống nhau: đến với phong trào, bước đầu tiên khi hoạt động là đến với phong trào học sinh, thanh niên hoặc công nhân. Mười Hương cũng vậy. Năm 1939 là năm thoái trào của phong trào Dân chủ, cách mạng gặp khó khăn, Đảng rút vào bí mật. Đó cũng là thời gian chàng thanh niên Mười Hương đã tham gia cách mạng được hai năm.

Ông cười khi kể lại vụ “lá cờ.” Vì tiếc lá cờ nên ông bị thực dân Pháp bắt.

 “Đó là vào dịp kỷ niệm Cách mạng Tháng Mười Nga. Hồi đó tôi còn nhỏ, rất ngây thơ. Quen biết nhiều anh trong Hội Truyền bá quốc ngữ. Chúng tôi không ở trọ nhà ai mà góp tiền mướn một căn gác ở chợ Hôm, cả mười người sống ở đó. Tôi nhỏ tuổi nhất, còn các anh là những công chức nhỏ:  người làm thư ký, người làm hỏa xa, cùng hoạt động trong Hội Truyền bá quốc ngữ…”

Hôm đó là vào đầu tháng 11, dịp kỷ niệm Cách mạng Tháng Mười. Họ chia làm hai tổ: một treo cờ, một rải truyền đơn. “Tôi ở tổ treo cờ, cùng một anh nữa sau này là đại tá, đi tù Côn Đảo 19 năm, tham gia tập kết trở thành chuyên viên kiến trúc. Sau 1975 về lại Sài Gòn mới mất. Hai chúng tôi được phân công treo cờ ở đường Phùng Hưng bây giờ. Chỗ đó nay đi qua tôi vẫn nhớ có cây bàng mọc ở vườn hoa hình tam giác chéo. Anh kia gác cho tôi trèo lên. Lúc tôi chuẩn bị buộc lá cờ lên thì thấy hai tên mật thám dắt xe vào vườn hoa. Tôi nhảy đại xuống, nghe cái huỵch! Nó giật mình né, tôi thừa cơ bỏ chạy. Vì thuộc đường phố Hà Nội nên tôi chạy thoát: qua phố Hàng Da, luồn vào các ngõ hẻm.

Tôi đem hai cái cờ về thư viện của Thành phố, không biết giấu vào đâu, bèn đem để bên trên cái thùng nước giật ở cầu tiêu khá cao, không ai với tới, sau đó đi về nhà. Nằm đọc sách một lúc, thấy tiếc hai lá cờ, tôi lại đến đó lấy về nhà, bỏ vào trong hòm. Không may, trong tổ đi rải truyền đơn có người bị bắt khai chỗ ở của cả nhóm. Chúng đến lục soát và thế là tôi bị bắt.”

Lúc bọn chúng ập vào, chàng thanh niên vẫn đang ngủ. Bọn Pháp lục ra được hai lá cờ. Nó bắt luôn cả mười anh ở chung. Một điều may mắn hiếm có đã xảy ra: bắt được người và tang chứng rồi, bọn chúng kéo đi, bỏ sót một căn buồng quan trọng không lục soát. Đó là “nhà in” đầu tiên vừa được hình thành với chiếc máy in đặt trong phòng. Nhờ đó mà chiếc máy in “thế hệ tổ tiên” của nhà in Trần Phú sau này vẫn còn nguyên vẹn và hiện nay đặt trong Viện Bảo tàng Cách mạng ở Hà Nội.

***

“Lúc đó trong khai sinh tôi chưa tới 15 tuổi, còn nhỏ, đi học trường Tây. Vì thế khi đưa tôi ra tòa án binh, địch không kết án được. Ông thầy cãi lúc đó nói: Thằng này sống xa gia đình, không ai trông nom, bị bạn bè rủ rê chứ không Cộng sản gì đâu. Cùng một thời gian đó, có những anh hoạt động nổi tiếng như Nguyễn Thọ Chân, Lê Toàn Thư… Các anh bị đưa ra Côn Đảo hết, chỉ tôi vì còn nhỏ được tha về.” Nhưng dù sao thì người thiếu niên này cũng đã bị giam cầm, khảo tra. Cùng bị bắt đợt đó có các anh Thanh niên Cứu quốc như Đỗ Xuân Hạc (em luật sư Đỗ Xuân Sảng), Luyến, Hợi, Oánh. Họ đã có những bài học đầu đời ở Hỏa Lò, Hà Nội. Những người Cộng sản nổi tiếng như Nguyễn Thọ Chân, Lê Toàn Thư cho cậu tham gia nhóm trung kiên học tập rút kinh nghiệm đối phó với địch khi bị đòn tra, khai thác…

Cũng thời gian này, chàng thiếu niên được những người tù Cộng sản kể cho nghe về một nhân vật. Câu chuyện về con người ấy có nhiều tình tiết ly kỳ: một Phó bí thư Xứ ủy đầu hàng khai báo khiến địch đến lùng bắt, song “người ấy” đã lẹ làng trốn thoát. “Người ấy” là đồng chí Trường Chinh. Một lần nữa, giặc tìm đến lớp chính trị của Trung ương vây bắt, rọi đèn pin trúng vào mặt đồng chí Trường Chinh nhưng ông nhanh chân hơn và rồi được hai ông cháu người dân chài cứu thoát. Người thiếu niên Mười Hương trong tù được nghe kể chuyện về tình bạn chí cốt giữa hai chiến sĩ cách mạng nổi tiếng: Nguyễn Đức Cảnh – Trường Chinh. Họ là bạn học dưới một mái trường, cùng đi hoạt động, cùng bị tù đày và Nguyễn Đức Cảnh sau đó bị lên máy chém. Số phận đẩy đưa thế nào, sau này vào những ngày đầu cách mạng, làm công tác bảo vệ Trung ương, ông Mười Hương lúc đó là một thanh niên trưởng thành, đã gắn bó đời hoạt động của mình với Tổng Bí thư Trường Chinh rất lâu dài. Nhưng đó là chuyện sau này. Bây giờ, cậu bé 15 tuổi ấy được ông anh ruột góp sức lo cho ra tù. “Lúc đó bọn chúng đưa tôi sang bên Sở Mật thám, kêu anh tôi lên làm cam đoan. Tôi nhớ mãi lời một tên mật thám nói với Chánh mật thám Bắc kỳ Lanéque: “Anh nên nhớ, Cộng sản ăn sâu vào máu những thằng bé con thế này. Thả ra là nó lại theo Cộng sản ngay. Anh cứ nhớ lời tôi.”

***

Cậu bé ra tù. Cầm theo lá đơn giới thiệu của nhóm trung kiên trong tù thông qua hai đồng chí Lê Toàn Thư và Nguyễn Thọ Chân, cậu tìm đến với lãnh đạo Trung ương.

Vừa ra tù, đầu còn cạo trọc, cậu về Thanh Trì bắt liên lạc với đồng chí Trường Chinh. Chủ nhà là cơ sở cách mạng, thấy người đầu trọc ở tù ra, không cho gặp. Cậu phải lên Hà Nội tìm cơ sở cũ qua Hội Truyền bá quốc ngữ lúc đó tập hợp khá nhiều trí thức lớn.

Ngày ấy, ở Hà Nội có những “pô-pốt” giống như nhà cho thuê, lính Tây cũng thường thuê để ở những khi làm việc ở sở về. “Lên Hà Nội, tôi ở pô-pốt trên gác nhà số 6B phố Công sứ Miriben, nay là phố Trần Nhân Tông, quận Hoàn Kiếm. Chúng tôi ở chung gần một chục người, gồm cả sinh viên, học sinh. Tôi có may mắn sống với bạn bè tứ xứ. Nơi đây phát triển mạnh phong trào truyền bá quốc ngữ, ở hướng đạo. Nhiều nhân vật nổi tiếng đã từng qua đây. Anh Tố Hữu trốn tù ra, quen với một anh, tới đó ở chờ liên lạc với Trung ương. Anh Nguyễn Tạo, Lê Tất Đắc trốn tù từ Buôn Mê Thuột cũng về đấy. Tôi quen biết rộng nhờ vậy mà học được, biết được, giác ngộ sớm hơn lứa tuổi.”

Chính ở môi trường này, anh thanh niên Mười Hương quen nhiều trí thức lớn. Anh thân quý bộ ba Hoàng Đình Tuất, Lưu Văn Lợi, Nguyễn Huy Tưởng.

Anh Tưởng người Dục Tú, Đông Anh. Anh Tuất người Nghệ An. Anh Lợi người Gia Lâm, Hà Nội. Cả ba người bạn thân thiết này đều làm thư ký nhà đoan, hoạt động cách mạng, đều là những người viết lách giỏi. Cả ba anh là cơ sở cách mạng trong văn hóa cứu quốc. Anh cũng qua lại những ngôi nhà nghèo nàn của những nhà văn tên tuổi như Tô Hoài, Nam Cao, Nguyên Hồng, Nguyễn Công Mỹ – em nhà văn Nguyễn Công Hoan.

 “Nguyên Hồng lúc đó khổ lắm. Lúc đó, chẳng có nhà cửa gì. Nguyên Hồng ở nhờ nhà Nguyễn Huy Tưởng, có cả mẹ, vợ con anh ấy ở cùng. Thỉnh thoảng mẹ Nguyên Hồng nấu cơm cho chúng tôi ăn. Nam Cao thì ở nhờ nhà Tô Hoài trên làng Bưởi.” “Từ những mối quan hệ này, tôi còn có nhiều liên hệ với các nhà văn, nhà trí thức vào dịp Đảng ta cho ra đời Đề cương văn hóa năm 1943”.

“Ở chỗ trọ, tôi cũng kết bạn với các anh Thôi Hữu, Phạm Triều. Vợ anh Thôi Hữu là cháu gái nhà cách mạng Tô Hiệu.” “Thôi Hữu – tức Nguyễn Đắc Giới – là một đồng chí chí cốt của tôi ở Hà Nội. Anh hơn tôi 6 tuổi, đã tốt nghiệp Thành chung, tham gia phong trào Thanh niên dân chủ trước năm 1940 ở Thanh Hóa, làm thơ và viết văn trên báo Bạn đường, tờ báo duy nhất lúc đó không bị thực dân Pháp cấm xuất bản sau khi Đại chiến thế giới hai nổ ra, vì lấy danh nghĩa là báo của tổ chức Hướng đạo. Nhiều bài viết của Thôi Hữu từ đầu năm 1941 đã được anh Trường Chinh khen ngợi. Sau khi đỗ Thành chung, Thôi Hữu vào Huế học trường Kỹ nghệ thực hành, tham gia bãi khóa và hoạt động cách mạng cho nên bị đuổi học. Ở Hà Nội, trong khi đang đi học ở trường Trung học Puginie, làm vỏ bọc để hoạt động trong phong trào Thanh niên cứu quốc, đầu năm 1942, tôi đã quen thân với Thôi Hữu ở pô-pốt 6B phố Công sứ Miriben. Thôi Hữu ra Hà Nội làm thợ điện chỉ để bắt liên lạc với Trung ương và làm cách mạng. Cuối năm 1942, khi tôi bị bắt ở trên gác nhà đó thì may Thôi Hữu đang công tác ở Việt Trì nên thoát nạn. Chính Thôi Hữu cũng được các anh Trường Chinh và Hoàng Văn Thụ cử lên Tông (Sơn Tây) để bắt mối với Erwin Borchers (mang bí danh Việt Nam là Chiến Sĩ) một trí thức người Đức, thạo tiếng Pháp vì trốn tránh phát xít Hitler mà phải đi lính lê dương cho Pháp và sang Việt Nam. Brochers cầm đầu nhóm chiến sĩ quốc tế chống phát xít trong Tiểu đoàn 3 Trung đoàn Bộ binh lê dương số 5. Trong khi hoạt động ở Ban địch vận do anh Trường Chinh trực tiếp phụ trách thì Thôi Hữu bị địch bắt vào cuối năm 1943.”

“Tôi nghe nói Thôi Hữu bị bắt, không muốn để giặc tra tấn mình nên đã tìm cách cắt cổ tự sát nhưng không chết. Bọn địch đưa anh vào Bệnh viện Bạch Mai. Tôi nghe chị Hảo y tá là một cơ sở mật của ta báo, mới biết. Chị Hảo không biết anh Thôi Hữu, chị bảo tôi: “Bọn mật thám lùng sục dữ lắm, anh cứ đi lang thang thế này thì nguy hiểm lắm. Có một anh nhà văn mới bị bắt đã tự tử.” Nhờ chị Hảo nói vậy, tôi mới biết người bạn cùng trọ với mình, Thôi Hữu, đã lâm vào cảnh gieo neo. Tôi quyết định vận động chị Hảo bố trí cho tôi lẻn vào thăm một lúc.”

Theo lời chị Hảo thì anh Thôi Hữu tự tử cắt cổ, máu chảy tràn trề. Địch bắt giam ở một phòng riêng phía sau bệnh viện. Lẻn vào thăm lúc này là liều lĩnh vô cùng nhưng anh thanh niên đầy nhiệt huyết Mười Hương lúc đó nhất quyết phải vào với bạn, bất chấp nguy hiểm. “Chúng tôi là bạn thân. Có lần anh ấy bán cả sách vở cho tôi tiền ăn lúc khốn khó.” Cô Hảo gắt: “Vào để chết à?”. Nhưng anh Mười Hương bày cách: “Cô cứ nói với anh Thịnh, người yêu cô, cũng là y tá, chú ý xem giặc nó gác lúc nào, chập choạng lúc thay ca, tôi tạt vào năm phút thăm một tý thôi.” Theo kế hoạch này, anh đã vào được nơi Thôi Hữu nằm. “Vào một buổi chiều chị đi trực, tôi theo vào. Chị giúi cho tôi chiếc áo blu và mũ trắng trùm đầu. Theo lời chị dặn, đến gần dãy nhà điên, tôi phải nấp ở chỗ vắng. Đến nửa đêm, nhận được mật hiệu của chị, tôi lẻn vào hành lang. Đi một quãng ngắn, mấy lần quẹo mới tới cửa buồng giam hẹp, chói ánh đèn. Nhìn qua ô cửa nhỏ, thấy rõ Thôi Hữu râu ria xồm xoàm, nửa nằm nửa ngồi, mình cởi trần, đen nhẻm, lằn rõ nhiều thương tích. Nhận ra tôi, Thôi Hữu ứa nước mắt: Mày vào đây làm gì. Tôi bảo nghe tin không sao đừng dược, chỉ gặp chốc lát thôi. Thôi Hữu sợ tôi gặp nguy hiểm, cứ đuổi tôi ra.” Tôi đút vội cho anh ít tiền và bánh mì, nói rằng tôi đang cố gắng tìm bắt liên lạc với tổ chức nhưng chưa được. Thôi Hữu bảo tôi đến tìm Nguyễn Hữu Đang…”

Gần 9 tháng sau, vào đêm 9/3/1945 Nhật đảo chính Pháp, Thôi Hữu tự gây thương tích để được ném vào nhà xác. Rồi ban đêm, anh lần mò chui ra qua đường cống ngầm trốn thoát. “Mấy hôm sau, tôi vô cùng mừng rỡ và xúc động gặp lại. Thôi Hữu ở nhà Tô Hoài trong làng Nghĩa Đô gần chợ Bưởi. Ngay trong thời gian ở tù Hỏa Lò, Thôi Hữu đã được chỉ định ủy viên Ban cán sự Đảng Hà Nội. Ra tù, anh được phân công phụ trách ngoại thành Hà Nội. Đầu năm 1946, sau khi cách mạng thành công, anh được anh Trường Chinh chọn về làm báo Sự Thật. Bốn năm sau, giữa tuổi 30 đầy nghị lực và sáng tạo, trên đường đi Chiến dịch Đông Du, nhà văn, nhà báo, nhà thơ Thôi Hữu đã hy sinh giữa cánh đồng phố Giá, gần Viện quân y ở Vô Tranh (nay thuộc huyện Phú Lương, Thái Nguyên.”


Nguồn: Viet-studies


*

để lại phản hồi