Những bước bình thường hóa quan hệ Việt Nam – Hoa Kỳ


Những bước bình thường hóa quan hệ Việt Nam – Hoa Kỳ

Bình Minh


Từ cuối năm 1980 và đầu những năm 1990, do tình hình thế giới và vùng Đông Nam Á có nhiều biến đổi, Mỹ bắt đầu có sự thay đổi chiến lược với Việt Nam. Chính quyền của Tổng thống G. Bush (Bush cha) có sự điều chỉnh chính sách: tập trung giải quyết vấn đề Tù binh Chiến tranh và Người Mỹ mất tính trong Chiến tranh (POW/MIA); bước đầu đề cập thận trọng vấn đề dân chủ nhân quyền; “Từng bước có điều kiện” để nới lỏng các mức quan hệ, dần dần đi đến xóa bỏ cấm vận và bình thường hóa quan hệ với Việt Nam nhưng vẫn nhằm chuyển hóa nền chính trị Việt Nam, đưa Việt Nam đi theo quỹ đạo của Mỹ.

Thực tế, vào thập kỷ 80, Việt Nam hướng đặc biệt tới việc cải thiện quan hệ với Hoa Kỳ bằng những hành động giải quyết vấn đề liên quan đến người mất tích trong chiến tranh (MIA). Tháng 2 năm 1982, lần đầu tiên Việt Nam trao trả một số hài cốt cho đoàn đại biểu Hoa Kỳ do Thứ trưởng Bộ Quốc phòng Richard Armitage dẫn đầu đến thăm Hà Nội. Tháng 6 năm 1985, Việt Nam thông báo với Hoa Kỳ về việc sẵn sàng giải quyết vấn đề MIA trong vòng 2 năm. Hai tháng sau, Việt Nam trao trả hài cốt 26 người Mỹ, và đây là lần trao trả số lượng lớn nhất tính từ năm 1982. Vào tháng 11, Việt Nam cho phép tiến hành cuộc khai quật chung đầu tiên giữa Việt Nam và Hoa Kỳ tại khu vực máy bay B-52 bị bắn rơi nhằm tìm kiếm các hài cốt MIA.

23 bộ hài cốt lính Mỹ chuẩn bị được chuyển từ Hà Nội tới căn cứ của quân đội Mỹ ở Hawaii để xác định danh tính, tháng 11 năm 1988 (Ảnh: National Geographic, số tháng 11 năm 1989 – Tư liệu của Thư viện Nguyễn Văn Hưởng)
Tháng 2 năm 1987, Tướng John Vessey, Đặc phái viên của Tổng thống G. Bush sang Việt Nam bàn về vấn đề POW/MIA, được xem như là bước khởi đầu về mặt ngoại giao cho các hoạt động hỗn hợp giữa Việt Nam và Mỹ để tăng cường quan hệ ngoại giao hai nước. Các năm tiếp theo, Chính phủ Mỹ đã tăng cường tổ chức nhiều đoàn cao cấp sang Việt Nam nhằm thúc đẩy hoạt động MIA. Đặc biệt, tháng 4 năm 1991, tại New York, phía Mỹ trao cho Việt Nam “Bản lộ trình 4 bước” thể hiện rõ từng bước đó có điều kiện thực hiện ý đồ chính trị của Mỹ đối với Việt Nam, trong đó luôn gắn vấn đề POW/MIA là một điều kiện quan trọng, không thể thiếu được trong quan hệ 2 nước. Có thể tóm tắt lộ trình 4 bước (4 giai đoạn) như sau:

Giai đoạn 1: Giai đoạn này bắt đầu với việc ký Hiệp định Liên Hợp Quốc (LHQ) tại Hội nghị Paris về một giải pháp chính trị cho Campuchia với điều kiện Việt Nam phải thuyết phục Phnôm Pênh ký và thực hiện Hiệp định Paris, phải cho người Việt Nam phục vụ trong chế độ Sài Gòn cũ đi theo diện ODP (Chương trình ra đi có trật tự), HO (Chương trình giành cho các quan chức cao cấp của chính quyền Sài Gòn đi đoàn tụ gia đình). Một ưu tiên quan trọng là hợp tác và giải quyết nhanh chóng các tin liên quan đến MIA, thu hồi hài cốt Mỹ được tìm thấy. Phía Mỹ sẽ bỏ giới hạn đi lại 25 dặm đối với các nhà ngoại giao Việt Nam làm việc tại Liên Hợp Quốc ở New York, bắt đầu đối thoại về thể thức liên quan đến bình thường hóa quan hệ ngoại giao giữa Mỹ và Việt Nam, thảo luận về vấn đề tài sản giữa hai nước, quy chế cho các doanh nghiệp Mỹ tới Việt Nam…

Giai đoạn 2: Liên Hợp Quốc sẽ lập Cơ quan UNTAC giám sát tại Campuchia (The United Nations Transitional Authority For Cambodia), Mỹ sẽ bắt đầu từng bước để tự do hóa các quan hệ kinh tế với Campuchia. Việt Nam phải ủng hộ hoàn toàn tất cả các phần của Hiệp định Liên Hợp Quốc tại Hội nghị Paris; bắt đầu thực hiện chương trình 24 tháng để tổ chức thường xuyên các đợt trao trả hài cốt đơn phương, điều tra chung về MIA. Phía Mỹ sẽ cử các đoàn cao cấp đến Hà Nội để tiếp tục đối thoại về bình thường hóa, nghiên cứu để từng bước xóa bỏ cấm vận. Như vậy, giai đoạn hai bao gồm các bước đi cụ thể của Campuchia trong mối quan hệ với Mỹ, quan hệ Mỹ và Việt Nam phản ánh mối quan hệ đó giữa hai nước. Giai đoạn hai có thể tiến triển nhanh hay chậm tùy thuộc vào tiến bộ về vấn đề POW/MIA.

Việt Nam và Hoa Kỳ phối hợp tìm hài cốt binh sĩ Mỹ ở Thừa Thiên – Huế năm 2010 (Ảnh: Bộ Quốc phòng Hoa Kỳ)
Giai đoạn 3: Yêu cầu tất cả các lực lượng và cố vấn quân sự Việt Nam tại Campuchia đã được quốc tế kiểm chứng phải rút về nước. Việt Nam đã thực hiện kế hoạch giải quyết vấn đề người Mỹ còn sống, trao trả các hài cốt có sẵn ở Việt Nam cho phía Mỹ. Lúc này Mỹ sẽ mở Văn phòng Liên lạc tại Hà Nội và mời Việt Nam thiết lập một Văn phòng như vậy tại Washington D.C; xóa bỏ cấm vận thương mại hoàn toàn; xem xét thuận lợi bỏ phiếu cho các khoản tiền cho vay của các tổ chức tài chính quốc tế như IMF, WB, ADB cho các dự án nhu cầu cơ bản của con người. Như vậy, giai đoạn ba này là giai đoạn đạt được những tiến bộ rõ rệt, đặc biệt là giải quyết các nhu cầu kinh tế và tài chính của Việt Nam với giả thiết là các bước đi cụ thể về Campuchia và POW/MIA được diễn ra.

Giai đoạn 4: Giai đoạn cuối này bắt đầu khi bầu cử dân chủ được diễn ra tại Campuchia, Quốc hội Campuchia được thành lập, có Hiến Pháp mới; việc giải giáp lực lượng quân sự của tất cả các phái Campuchia như đã được 4 phái Campuchia chấp nhận. Mỹ và Việt Nam đồng ý thực hiện các cam kết trước đây về vấn đề POW/MIA và chương trình 24 tháng đã đạt được kết quả. Lúc này, Mỹ sẵn sàng thiết lập quan hệ ngoại giao đầy đủ với Việt Nam, xem xét Việt Nam được hưởng quy chế “Tối Huệ Quốc” theo quy định của đạo luật Jackson – Vanik, xem xét thuận lợi các khoản vay cho nhu cầu cơ bản của con người trong các ngân hàng phát triển đa phương khác nhau và các tổ chức tài chính quốc tế.

Bài phỏng vấn Bộ trưởng Ngoại giao Nguyễn Cơ Thạch về việc bình thường hóa quan hệ Việt Nam – Hoa Kỳ đăng trên tờ Time, số ra ngày 30 tháng 4 năm 1990, trong đó, Bộ trưởng nói “Đã đến lúc hàn gắn vết thương chiến tranh” (Tư liệu của Thư viện Nguyễn Văn Hưởng)
Như vậy là lộ trình 4 bước nói trên đã thể hiện rất rõ rằng ở bất kỳ mối quan hệ nào, ở bất kỳ giai đoạn phát triển nào trong quan hệ Mỹ – Việt Nam, phía Mỹ đều gắn với tiến trình giải quyết vấn đề POW/MIA để gây sức ép với Việt Nam trong mối quan hệ song phương. Chính Thượng Nghị sỹ John McCain đã ví vấn đề POW/MIA tại Việt Nam như một chiếc hàn thử biểu (cặp nhiệt kế) trong quan hệ Mỹ – Việt. Khi nào Mỹ muốn sấy nóng lên, tạo sự căng thẳng trong quan hệ thì chỉ trích Việt Nam thiếu hợp tác trong việc giải quyết vấn đề MIA; còn khi nào muốn thúc đẩy nhanh quan hệ thì đánh giá Việt Nam đã hợp tác tích cực, có thiện chí trong việc hỗ trợ Mỹ giải quyết vấn đề MIA.

Thực tế quan hệ Việt – Mỹ đã được Mỹ tính toán kỹ từng bước, nhằm vừa đảm bảo lợi ích an ninh của Mỹ, vừa duy trì được sức ép cần thiết buộc Việt Nam phải thực hiện những đòi hỏi do Mỹ đặt ra. Trong chuyến thăm Việt Nam của cựu Tổng thống G. Bush, từ ngày 4 tới ngày 8 tháng 9 năm 1995, ông Bush cũng đã nhắc tới Lộ trình này trong diễn văn của mình: “… Nội các của tôi đã nghĩ ra một ‘Lộ trình’ để rõ những gì cần phải đạt được để cải thiện quan hệ Mỹ – Việt. Tướng John Vessey cùng nhiều vị khác am hiểu vấn đề tù binh và người mất tích trong trong chiến tranh đã cho tôi nhiều lời khuyên có giá trị về những công việc đang tiến triển nhằm khuyến khích Việt Nam đi theo bản lộ trình”. Sự tiến bộ có thể đạt được trong quan hệ Việt – Mỹ đều phụ thuộc phần lớn vào tiến trình giải quyết vấn đề POW/MIA tại Việt Nam.

Có thể nói, Việt Nam đã giải quyết vấn đề này rất tốt. Tháng 8 năm 1987, hai hội nghị được tổ chức luân phiên tại Washington và Hà Nội để thảo luận vấn đề MIA và cả vấn đề viện trợ nhân đạo khẩn cấp cho Việt Nam. Việt Nam đã đồng ý cho phép đội ngũ kỹ thuật hỗn hợp Việt Nam – Hoa Kỳ cùng làm việc nhằm tìm kiếm hài cốt các nhân viên công vụ. Tới tháng 9 năm 1990, Hoa Kỳ nhận lại từ phía Chính phủ Việt Nam chỉ 100 hài cốt MIA. Hoa Kỳ tính có khoảng 1.750 người Mỹ mất tích ở Việt Nam; tổng số người Mỹ mất tích trên toàn Đông Dương là 2.387.

Chuyển biến quan trọng đầu tiên trong mối quan hệ với Việt Nam – Hoa Kỳ là Bộ trưởng Ngoại giao Việt Nam Nguyễn Cơ Thạch đã gặp gỡ Ngoại trưởng Hoa Kỳ James Baker tại New York ngày 29 tháng 9 năm 1990. Đó là cuộc gặp gỡ cấp cao đầu tiên giữa hai quốc gia trong suốt 17 năm. Trong buổi gặp gỡ tại New York, Việt Nam đồng ý cho phép Hoa Kỳ lập văn phòng tại Hà Nội để thu thập thông tin liên quan đến MIA. Bộ trưởng Ngoại giao Việt Nam cũng đồng ý thành lập các đội hỗ trợ kỹ thuật Việt Nam – Hoa Kỳ với quyền tự do tiếp cận các hồ sơ chiến tranh và tài liệu lưu trữ cũng như có thể đến tận nơi các máy bay bị bắn rơi hoặc các sự cố khác, nơi các lực lượng quân sự Mỹ có khả năng mất tích tại Việt Nam trong chiến tranh. Tháng 4 năm 1991, Tướng Vessey mở văn phòng tại Hà Nội để điều tra các trường hợp MIA.

Bộ trưởng Ngoại giao Việt Nam Nguyễn Cơ Thạch gặp Ngoại trưởng Hoa Kỳ James Baker tại New York vào tháng 9 năm 1990
Tiếp sau MIA là hàng loạt những động thái ngoại giao và thương mại tích cực khác giữa hai bên. Một trong những hoạt động tích cực đầu tiên chính là chuyến thăm Việt Nam của đoàn đại biểu doanh nghiệp Hoa Kỳ do Warren Williams, Chủ tịch Phòng Thương mại Hoa Kỳ dẫn đầu vào tháng 12 năm 1991. Tháng 2 năm 1992, cuộc viện trợ đầu tiên của Hoa Kỳ dưới hình thức cứu trợ cho các nạn nhân hứng chịu bão đã được thực hiện. Ba tháng sau, Washington bãi bỏ cấm vận thương mại đối với các mặt hàng y tế và nông nghiệp để đáp ứng đủ cho nhu cầu của nhân dân Việt Nam. Hoa Kỳ cũng xóa bỏ những hạn chế đối với hoạt động của các tổ chức phi chính phủ và phi lợi nhuận Mỹ, cho phép những tổ chức này tiến hành các hoạt động nhân đạo tại Việt Nam.

Thứ trưởng Ngoại giao Việt Nam Lê Mai và Thượng nghị sĩ Mỹ John Kerry trả lời phóng viên sau phiên họp tại Hà Nội tháng 11/1992 về vấn đề lính Mỹ mất tích trong chiến tranh ở Việt Nam
Ngày 12 tháng 12 năm 1992, chỉ vài tuần trước khi nhiệm kỳ kết thúc, Tổng thống George Bush tuyên bố cho phép các chủ doanh nghiệp và nhà đầu tư tới Việt Nam nhằm chuẩn bị kế hoạch cho tương lai phát triển kinh tế ở Việt Nam. Tháng 2 năm 1993, Tổng thống Mỹ mới đắc cử Bill Clinton tuyên bố nới lỏng cấm vận Việt Nam. Tháng 7 năm 1993, Hoa Kỳ tuyên bố sẽ không tiếp tục cấm IMF và các tổ chức đa quốc gia khác cho Việt Nam vay. Đầu năm 1994, Mỹ thiết lập Văn phòng Liên lạc. Năm 1995 nâng cấp thành Sứ quán và sau đó mở Tổng Lãnh sự quán Mỹ tại TP.HCM.

Việc bãi bỏ cấm vận thương mại của Hoa Kỳ vào tháng 2 năm 1994 đã đưa Việt Nam chính thức ra khỏi danh sách các nước thù địch của Hoa Kỳ. Ngay sau đó có vẻ như Việt Nam đã chính thức được công nhận và đây là một bước tiến dẫn đến việc Hoa Kỳ đã trao Quy chế thương mại Tối huệ quốc (MFN) cho Việt Nam. Trên thực tế, phải thêm tới sau 18 tháng Tổng thống Bill Clinton mới tuyên bố bình thường hóa quan hệ với Việt Nam vào ngày 11 tháng 7 năm 1995. Tổng thống Mỹ phát biểu cho rằng việc bình thường hóa sẽ nhấn mạnh lợi ích của Hoa Kỳ trong việc “tạo ra một nước Việt Nam tự do và hòa bình ở châu Á hòa bình và ổn định”. Năm 2001, hai bên ký Hiệp định Thương mại Việt – Mỹ, đánh dấu sự phát triển toàn diện trong quan hệ song phương giữa Mỹ và Việt Nam. Nhìn lại quá trình bình thường hóa quan hệ hai nước, có thể thấy việc Chính phủ Việt Nam đã hỗ trợ phía Mỹ giải quyết tốt vấn đề POW/MIA chính là điều kiện mở đường cho việc thiết lập quan hệ ngoại giao giữa hai nước.

Tổng thống Hoa Kỳ Bill Clinton tuyên bố quyết định Hoa Kỳ bình thường hóa quan hệ với Việt Nam, ngày 11/7/1995

Ngày 5-8-1995, tại Hà Nội, Bộ trưởng Ngoại giao Hoa Kỳ Warren Christopher và Bộ trưởng Ngoại giao Nguyễn Mạnh Cầm ký Nghị định thư, chính thức thiết lập quan hệ ngoại giao Việt Nam-Hoa Kỳ. (Ảnh: Xuân Tuân/TTXVN)

Trong chuyến thăm Việt Nam năm 2000, Tổng thống Bill Clinton đã đến thăm hiện trường khai quật hài cốt phi công Mỹ lái chiếc máy bay Mỹ bị bắn rơi vào năm 1967 ở huyện Mê Linh, Vĩnh Phúc (Ảnh: AFP)
Tuy vậy, phải nhận thấy từ Lộ trình 4 bước là việc bình thường hóa quan hệ với Việt Nam xuất phát từ không chỉ những nỗ lực đầy thiện chí của Việt Nam trong việc giải quyết người Mỹ mất tích, mà còn là tính toán chính trị kỹ lưỡng của Hoa Kỳ. Tài liệu từ phía Mỹ cho thấy Hoa Kỳ đã nhận thấy những lợi ích rõ ràng khi nối lại quan hệ với Việt Nam.

Thứ nhất, một mối quan hệ ngoại giao sẽ giúp người Mỹ gây ảnh hưởng tới quá trình cải tổ cả trong lĩnh vực kinh tế lẫn chính trị đang diễn ra tại Việt Nam; thứ hai, tạo cho các công ty Mỹ một phần đáng kể cơ hội thương mại và đầu tư khổng lồ trong phần mà các quốc gia khác đã khai thác được nhờ vào chính sách tự do hóa của Việt Nam; thứ ba, tạo điều kiện để Hoa Kỳ tiếp cận các kế hoạch chiến lược của Việt Nam và Trung Quốc đối với vùng Vịnh Bắc bộ và Biển Đông. Và mặc dù không hề công nhận chính thức nhưng tuyên bố của Thượng nghị sĩ John McCain cho rằng việc xác lập quan hệ với Việt Nam chính “là một bước cân bằng chiến lược đối với sức mạnh quân sự của Trung Quốc tại châu Á”./.


Nguồn: Viện Nghiên Cứu Phương Đông


*

để lại phản hồi