Những ngày cuối đời của ông hoàng Vĩnh San


Những ngày cuối đời của ông hoàng Vĩnh San

Đào Hùng lược thuật


Là con thứ năm của vua Thành Thái, hoàng tử Vĩnh San sinh năm 1900, được đưa lên ngôi ngày 5 tháng 9-1907, sau khi vua cha bị thực dân Pháp phế truất vì kế hoạch chống Pháp không thành. Khi đó nhà vua chỉ mới lên 7, lấy niên hiệu là Duy Tân. Nhưng chưa đầy 10 năm sau, ông đã có kế hoạch khởi nghĩa chống Pháp cùng với sự giúp sức của Thái Phiên và Trần Cao Vân. Nhưng kế hoạch bị bại lộ, vua Duy Tân lại bị người Pháp phế truất ngày 13 tháng 5-1916, rồi bị đày sang đảo Réunion. Ông đến đảo vào tháng 11 cùng với gia đình gồm có bà phi và một vài người con.

Vua Duy Tân khi lên ngôi năm 1907 chỉ mới lên 7 tuổi

Tại hòn đảo thuộc địa này của Pháp ở phía đông nam châu Phi, ông hoàng Vĩnh San bị quản thúc, phải sống cuộc đời tẻ nhạt bên cạnh những người dân bản địa, bị cắt đứt hoàn toàn với đất nước. Là người ham mê kỹ thuật, ông hoàng đã học chữ Pháp, tự tìm sách để học vô tuyến điện, sau đó mở một xưởng sửa chữa máy vô tuyến điện nhỏ ở thành phố Saint-Denis.

Khi chiến tranh thế giới thứ hai bùng nổ, ông hoàng Vĩnh San đã năm lần gửi đơn lên chính phủ Pháp, từ tháng 4-1939 đến tháng 9-1940, xin được gia nhập quân đội Pháp để chiến đấu chống Dức, nhưng không được chấp nhận. Khi nước Pháo bị Dức chiếm đóng, chính quyền thuộc địa ở hòn đảo này đứng về phía Pétain làm tay sai cho Đức, ông hoàng Vĩnh San đã thông qua làn sóng vô tuyến điện, liên lạc với quân Anh, đồng thời truyền bá những tin tức phát đi của lực lượng kháng chiến Pháp do tướng De Gaulle cầm đầu, cùng những tin tức của quân Đồng Minh. Vì những hoạt động đó mà ông đã bị nhà cầm quyền trên đảo cầm tù ở trại cách ly Saint-Denis ngày 7 tháng 5-1942, nhưng ngày 19 tháng 6 sau đó thì được thả.

Từ đảo Reunion, ông hoàng Vĩnh San đã sử dụng vô tuyến điện để liên lạc với các trạm vô tuyến của Anh và phổ biến tin tức của Đồng Minh

Ngày 28 tháng 11-1942, chiếc tàu chống ngư lôi Leopard của lực lượng kháng chiến “Nước Pháp tự do” cập bến ở đảo này. Tháng 12-1942, ông hoàng VĨnh San được tiếp nhận lên tàu trong thời gian 3 tháng để phụ trách điện đài. Nhưng không may là ông bị ốm, nên chỉ 22 ngày sau ông phải rời khỏi tàu. Tháng 2-1943, ông lại gửi đơn xin đăng lính nhưng lại bị từ chối. Cuối cùng ông hoàng được tiếp nhận vào tiểu đoàn Hành quân số 1 từ ngày 3 tháng 1-1944, được phục vụ cho đến hết chiến tranh. Một háng sau ông ược phong trung sĩ phụ trách vô tuyến điện vào ngày 15 tháng 2. Tháng 3 năm đó, ông được đưa đến Madagscar để vận động 1.600 lính thợ Đông Dương, lúc này đang phản đối không chấp hành lệnh của chỉ huy. Những người lính thợ này phần lớn là người Việt Nam bị dưa sang Madagascar trong thời gian chiến tranh, bị làm việc trong những điều kiện vô cùng cực khổ nên đã tổ chức chống đối. Nhân dịp này ông được phông chuẩn úy thông ngôn ngày 15 tháng 2-1944. Ông đã kêu gọi bà con nhẫn nhục, đợi thời cơ về nước, vì vậy sau khi chiến tranh kết thúc, những người lính thợ này khi trở về nước phần lớn đã tham gia hàng ngũ kháng chiến chống Pháp.

Ông hoàng còn tiếp tục gửi đơn xin chuyển về Pháp tham gia chiến đấu chống Đức, nhưng bị từ chối. Quyết tâm trở lại nước nhà, ngày 29 tháng 8-1944 ông đã gửi đến chính quyền đảo một bản tuyên bố chính thức, nói rõ ý nguyện của ông là muốn trở về Việt Nam chiến đấu chống hiểm họa nô dịch của Nhật Bản, và nguyện sẽ gắn bó với sự nghiệp của nước Pháp ở Đông Dương và kêu gọi đồng bào cùng chung sức vì sự nghiệp đó. Những nỗ lực của ông để vượt qua sự ngần ngại của chính phủ Pháp cuối cùng đã có kết quả. Cuối cùng ngày 14 tháng 5-1945 hoàng tử Vĩnh San được đưa về Paris, tuy có hơi muộn. Tháng 7 năm đó, ông được tạm thời điều động về bộ tham mưu Sư đoàn thuộc địa số 9 đóng ở Đức, lúc đó đang chuẩn bị để đưa sang Viễn Đông. Ông hoàng có lẽ đang trong thời kỳ bị theo dõi, được đưa đến tập sự ở xác đơn vị khác nhau, được tổ chức vài cuộc nói chuyện về tình hình Việt Nam tại trường của chỉ huy sư đoàn.

Từ tháng 7, bộ Thuộc Địa Pháp đã xem xét khả năng sử dụng vai trò của vị cựu hoàng này trong kế hoạch phục hồi vai trò của Pháp tại Đông Dương. Về phần mình, ông hoàng liên tiếp có những cuộc tiếp xúc với chính giới Pháo ở Paris, tháng 5-1945, ông đã thảo một tài liệu gọi là Di chúc chính trị trình bày quan điểm của mình về Đông Dương. Ông chủ trương thống nhất ba kỳ Bắc Kỳ, Trung Kỳ, Nam Kỳ, lập lại nhà nước Việt Nam đã bị chia cắt sau khi người Pháp chinh phục, đòi hỏi đọc lập về chính trị, trong khi vẫn giữ liên minh chặt chẽ về quân sự và ngoại giao với nước Pháp.

Trong khi Sư đoàn 9 DIC xuống tàu đi Sài Gòn, thì ông hoàng được gọi về Paris trong tháng 10 để thảo luận với văn phòng Tổng Thống về khả năng trở lại ngai vàng An Nam. Ông được đề bạt ngược về trước làm tiểu đoàn trưởng ngày 29 tháng 10-1945. Ngày 14 tháng 12, cùng với viên cố vấn riêng Pierre Thébault, ông được tiếp kiến tướng De Gaulle. Hai người đã nói chuyện và hiểu nhau, nhất trí về các vấn đề Đông Dương, chính phủ Pháp quyết định sẽ đưa Vĩnh San trở về Việt Nam trong tháng 3-1946. Tướng De Gaulle đã nhận xét về ông hoàng rằng: “Đó là một người có cá tinh mạnh”. Ba mươi năm tù đày vẫn không xóa nhòa dược tâm hồn Việt Nam của ông hoàng này. Ông quyết định trở lại đảo Reunion để gặp gia đình và thu xếp công việc trước khi về nước, ông bay về Paris ngày 24 tháng 12.

Sau khi hạ cánh chuyển tiếp qua Algerie và Tchad, chiếc máy bay Lockheed C60 của hệ thống hàng không Pháp mang số hiệu F-BALV rời Fort Lamy ngày 26 tháng 12 lúc 13 giờ 50 bay về hướng Bangui. Đến 18 giờ 30 thì máy bay bị rơi ở M’Baiki thuộc đất Oubangui – Chari, khiến tất cả phi hành đoàn và hành khách đều tử nạn. Báo cáo cho biết chiếc máy bau tìm cách hạ cánh khẩm cấp vì cạn nhiên liệu, do sai lầm của hoa tiêu. Nhiều giả thuyết đước đặt ra trước tai nạn này, có tin đồn là một âm mưu sát hại. Trước đó, ông hoàng có nói với Pierre Thébault về sự chống dối của người Anh trước việc đưa ông trở về Việt Nam. Nưng chừng nấy chưa đủ dể xác minh giả thuyết. Khi nhận được tin, tướng De Gaulle phải thốt lên: “ Quả thật nước Pháp đã không may!” Cho đến nay, hồ sơ về ông hoàn Vĩnh San vẫn chưa khép, nhiều bóng đen vẫn bao trùm lên cái chết của ông. Và người ta vẫn còn đặt câu hỏi “giá như…”.

Hài cốt của Vĩnh San lúc đó được chôn tại chỗ. Tháng 4-1987 thì được chuyển về Việt Nam trong khuôn khổ hợp tác giữa chính phủ Pháp và chính phủ Trung Phi. Từ đây, ông được yên nghỉ bên cạnh những người thân trong khu lăng mộ hoàng tộc ở Huế. Thời gian đi, nhưng lịch sử vẫn vẫn còn ghi nhận về hình ảnh một ông hoàng yêu nước, phải chịu số phận nghiệt ngã ngay từ lúc còn niên thiếu. Và không phải chỉ riêng đối với ông, mà những người anh chị em và con cháu ông vẫn còn chịu nhiều cay đắng của cuộc đời.


Nguồn: Tạp Chí Xưa & Nay, số 289 tháng 8-2007

Bản scan: <LINK>


*

Bình luận