Im lặng bên trong


Im lặng bên trong

Diễm Trang


Vào giờ học nghị luận về câu nói của Martin Luther King “Trong thế giới này, chúng ta xót xa không chỉ vì lời nói và hành động của những kẻ xấu, mà còn vì sự im lặng đáng sợ của cả những người tốt”, một em học sinh hỏi tôi: “Thưa cô, người tốt mà im lặng trước cái ác, cái xấu thì có nên được gọi là người tốt không?”. Một em khác nhanh nhảu: “Họ vẫn tốt chứ. Họ tốt với người xấu!”.

Thỉnh thoảng, khi chứng kiến sự im lặng của những người có-vẻ-tốt quanh mình trước sự bất công và những điều sai trái tệ hại, tôi lại nhớ đến lời trò nhỏ trong buổi thảo luận hôm đó.

“Im lặng” không chỉ là một động từ hay tính từ. Nó là một thái độ sống, một “trường phái”, một kiểu văn hóa. Người biết im lặng thường không phải là người kém hiểu biết. Ngược lại, chính vì hiểu biết đủ nhiều nên họ mới kín kẽ và thận trọng. Có nhiều lý do khiến một người bặt tiếng trước điều cần lên tiếng: để khỏi mếch lòng ai, để khỏi “trầy trụa”, để khỏi bị bóc phốt ngược (nếu có phốt), để bảo vệ vị trí công việc hoặc hình ảnh “bồ tát” của mình, để “bạng duật tương trì, ngư ông đắc lợi”… Nhân danh việc phải duy trì một trật tự, một nề nếp (mà có khi đã lung lay tận gốc từ đời nào), người ta cũng cho mình cái quyền quay lưng ngoảnh mặt trước ngổn ngang giằng xé của thực tại. Sự im lặng đầy ý thức đó lắm lần được hợp thức hóa bằng những mỹ từ, mỹ ý, thậm chí được nâng lên tầm triết học và tôn giáo như: từ bi, hỉ xả, khoan dung, độ lượng; dĩ hòa vi quý; “lâu rồi đời mình cũng qua”; hãy tu thân thôi, mặc lòng thiên hạ… Cứ thế, càng im lặng lâu được bao nhiêu thì việc im lặng càng dễ dàng hơn bấy nhiêu.

Bất kỳ môi trường lao động nào cũng tồn tại ba kiểu người: giỏi, trung bình và tồi, cả về chuyên môn lẫn đạo đức nghề nghiệp. Một nghịch lý cay đắng nhưng hoàn toàn có thể diễn ra là: trước những sai phạm rành rành và nghiêm trọng của người tồi, cấp trên cũng như đồng nghiệp của anh ta đa phần chọn im lặng hoặc lảng tránh. Số ít ỏi những người muốn báo động phải chật vật xoay xở đưa sự việc ra ánh sáng. Họ mặc nhiên có lỗi với người tồi và cả với những người vốn dĩ không có động thái nào. Họ thậm chí bị đánh giá là kém nhân ái, hiếu chiến, tố giác vì tâm lý trả đũa hoặc tư thù cá nhân. Từ chỗ mong muốn sự thật và lẽ phải, người lên tiếng bị dư luận nhìn nhận như gã dị biệt, kẻ gây sự hay chuyên gia thọc mũi vào việc của người khác. Bản chất cốt lõi của hiện tượng này đã được nhà triết học Henri Frédéric Amiel chỉ rõ: “Sự thật không chỉ bị dối trá xâm hại; nó còn bị xúc phạm bởi sự câm lặng”. Để thoát khỏi tình trạng câm nín trước tiêu cực hoặc bị buộc phải đi ngược chuẩn mực sống của mình, nhiều người chọn giải pháp nghỉ việc. Quyết định này giúp họ có thể tiếp tục nuôi dưỡng sự nhạy cảm về đạo đức mà không phải chịu đựng quá nhiều chỉ trích hoặc rủi ro.

Sự lạc lõng và thiếu vắng dần tiếng nói của người dám nói, sự nhởn nhơ và ngày càng táo tợn của kẻ được che chắn bằng hàng rào im lặng do người có khả năng và thẩm quyền lên tiếng dựng lên tạo ra những khoảng lặng chông chênh và nỗi buồn thăm thẳm về cuộc đời.

Nhưng chẳng lẽ sự im lặng chỉ mang đến xót xa? Nếu vậy thì nó đâu được tôn vinh như một nghệ thuật sống mà con người cần rèn luyện mới sở hữu được? Cổ nhân đã dạy “Im lặng là vàng”, “Uốn lưỡi bảy lần trước khi nói”, “Biết thì thưa thì thốt, không biết dựa cột mà nghe”. Im lặng đúng lúc, đúng nơi là biểu hiện của tính khiêm nhường, cầu thị; hé lộ sự khôn ngoan và khát vọng hiểu biết của con người. Im lặng là khi chẳng còn gì để nói với nhau, là khi không muốn chia sẻ bí mật vì tình thương hoặc đạo đức, là khi mất tin yêu và muốn dùng quyền cuối cùng của mình. Hoặc chỉ đơn giản là muốn đoạn lìa bản thân khỏi những buộc ràng không còn phù hợp.

Tất cả châu lục trên thế giới đều có sân khấu mặt nạ. Loại hình nghệ thuật này có khi còn được gọi là kịch câm vì diễn viên hầu như không thoại. Mặt nạ và cử động cơ thể là những ký hiệu truyền nghĩa đến khán giả thay cho tiếng nói. Sân khấu mặt nạ – vốn có tuổi đời cao nhất trong các loại hình sân khấu – cho thấy tính đa nghĩa và khả năng khơi gợi nhận thức, cảm xúc phong phú của khán giả bằng hình thức giao tiếp phi ngôn ngữ. Ngay cả trong những vở kịch nói thì những khoảng dừng lặng lẽ cũng tạo ra một bầu không khí trong suốt hoặc bi thảm mà trong đó, các nhân vật dường như rơi vào sợ hãi, tuyệt vọng và vỡ òa nhận thức. “Sự im lặng tràn vào vở kịch như nước tràn vào con tàu chìm” (Samuel Beckett).

Những thể thơ nổi tiếng thế giới như haiku, Đường luật hay sonnet đều thấm cảm sự im lặng với tinh thần sâu sắc và uyển chuyển. Edgar Allan Poe cho rằng sự im lặng có hai mặt – “tựa biển và bờ, như cơ thể với tâm hồn”. Quả vậy, hơn cả việc không phát ngôn, con người cần một thứ tĩnh tại sâu xa hơn từ trong nội tâm, để đề kháng với mớ hỗn độn đa đoan của thanh âm đời sống, để tìm thấy một thứ ánh sáng thuần khiết có tác dụng vệ sinh tâm trí và soi đường cho những nhận thức mới. Ý niệm tĩnh lặng để vận động và thúc đẩy bản thân đầy uyên áo ấy lan tỏa trong các triết lý của Hindu giáo, Phật giáo, Thiên Chúa giáo, Islam giáo… Giữ cho tâm thức lắng đọng, loại bỏ tạp âm – tạp niệm là một trong những phương cách để con người trở nên minh triết, và cũng nhờ vậy mà bỗng cao quý hơn.

Năm 2020, không điều gì có thể ám ảnh và ảnh hưởng nặng nề đến nhân loại hơn đại dịch Covid-19. Cơn dịch bệnh không hề nói năng chi nhưng gây ra những vọng âm ghê gớm. Không chỉ là khoảng cách hai mét giữa người và người. Không chỉ là chiếc khẩu trang kè kè trên mặt. Không chỉ là sự nghi ngại trước cú hắt hơi hay vài tiếng ho của người đứng gần. Mà còn là sự lặng lẽ hơn bao giờ hết của con người. Sự chùng xuống ấy kèm theo chứng rối loạn căng thẳng sau chấn thương, lo lắng, trầm cảm, tâm thần phân liệt… và cả cảm giác bị cô lập. Tuy nhiên, nhiều người còn bình tĩnh và may mắn khỏe mạnh lại nhận ra lợi ích của việc “xa đám đông điên loạn”. Người ta bắt đầu cân nhắc kỹ lưỡng hơn bao giờ hết nơi nên đến và người cần gặp. Phòng dịch là nguyên cớ hợp lý để khước từ gặp gỡ mà không sợ bị giận hờn, trách móc. Tiệc tùng, hội họp giảm đi đáng kể. Trực giác cho ra danh sách người và việc cần ưu tiên. Ở tâm điểm cuộc sàng lọc khắc nghiệt của sự sống, con người biết trân trọng an lành và yên tĩnh.

Chuyên gia sức khỏe – nhà báo Deepak Chopra cho rằng “Không có gì thay thế cho cảm hứng sáng tạo, kiến thức và sự ổn định bằng việc bạn biết cách tiếp xúc với cốt lõi của sự im lặng từ bên trong”. Quả vậy, loài người ngày càng có ý thức tìm kiếm chính mình. Dù không thể tự do đi lại như thời tiền dịch, nhiều người vẫn nghĩ ra cách an trú trong thiên nhiên, tận dụng cơ hội hít thở bầu khí quyển trong lành của biển cả hay đại ngàn, thăm viếng những nơi linh thiêng… Họ tự nấu nướng, tập yoga tại nhà, rèn luyện chánh niệm, đi bộ trong rừng hoặc những nơi thanh vắng. Để khai mở các giác quan. Để được lắng nghe và suy ngẫm về bản thể. Để thấu thị những người, những việc mà khi quá bận rộn đã không kịp để tâm để mắt. Khi trí tuệ được soi sáng và cân bằng, con người biết cách kiến tạo bầu không khí cô tịch ngay cả lúc ở giữa đám đông.

Có một khoảnh khắc im lặng tuyệt diệu xuất hiện đều đặn mỗi năm mà khi được tận hưởng, tôi (và tin rằng rất nhiều người nữa) luôn có cảm giác xúc động thiêng liêng. Đó là giây phút đất trời giao hòa giữa năm cũ và năm mới. Cái ồn ã của tiếng đếm ngược, biển người, âm nhạc; thứ ánh sáng chói lóa từ đèn đuốc và pháo hoa… bất chợt bị lu mờ, nhường chỗ cho sự kết nối chặt chẽ giữa tâm hồn cá thể mỏng nhẹ với sự vận hành êm ái của vũ trụ. Đó là thời khắc con người tiếp nhận năng lượng bình yên, chữa lành tâm trí, đong đầy hy vọng và nhận ra ý nghĩa cốt tủy của tồn tại. Có lẽ, chỉ khi sở hữu được khả năng im lặng từ bên trong, mỗi cá nhân mới thiết lập được một tâm hồn ấm áp, tế vi, khỏe khoắn và vững chãi. Một tâm hồn lắng dịu giữa những cảnh tượng phi thường đẹp đẽ của tự nhiên cũng như sẵn sàng lên tiếng trước trái ngang đời sống.


Nguồn: Thời báo Kinh tế Sài Gòn Xuân Tân Sửu 2021


*

Bình luận