Đông Dương thuộc Pháp cuối thế kỉ 19


Đông Dương thuộc Pháp cuối thế kỉ 19

Smith D. Warres

Ngô Bắc dịch


Trân trọng giới thiệu bản dịch phần về Việt Nam trong tác phẩm nhan đề European Settlements in the Far East (tạm dịch: châu Âu thiết lập thuộc địa ở Viễn Đông) của Smith D. Warres, ấn hành tại New York vào năm 1900. Bản văn phản ánh quan điểm của tác giả và hiểu biết đương thời về Việt Nam, có một vài sai sót, nhưng đã cung cấp các tọa độ địa dư, dân số, ngân sách, các thống kê ngoại thương chính xác của các vùng và đa phương được nói đến, và do đó cũng có thể được tham khảo trong việc nghiên cứu.

ĐÔNG DƯƠNG

Bản đồ Đông Dương (Thư viện Quốc gia Pháp)

Thuộc địa của Pháp tại Đông Dương nằm giữa 8o30’ và 23o23’ vĩ tuyến Bắc, 97o40’ và 107kinh tuyến Đông, bao gồm thuộc địa Nam Kỳ (Cochin-China), các xứ bảo hộ Căm Bốt, An Nam (Trung Kỳ), Đông Kinh (Tonkin tức Bắc Kỳ), và Lào, tất cả được đặt dưới sự chỉ huy của viên Toàn quyền, người được “Thượng Hội đồng Đông Dương” (Conseil Supérieur de l’Indo-Chine) phụ trợ. Hội đồng này là một bộ phận cơ động, được nhóm họp tại bất kỳ thị trấn chính yếu nào theo triệu tập của viên Toàn quyền, nhưng Hà Nội, thủ đô của Bắc Kỳ, rõ ràng chiếm giữ ngôi thứ như vị trí trú đóng chính của cơ quan này. Theo một sắc lệnh ngày 8 tháng Tám năm 1898, Hội đồng bao gồm Toàn quyền, Chủ tịch, Tổng Tư lệnh Quân đội, Tư lệnh Hạm đội vùng Trung Hoa, Phó Toàn quyền kiêm Thống đốc Nam Kỳ, các Thống sứ thường trú tại Bắc Kỳ, Trung Kỳ, và Căm Bốt, một đại diện của chính quyền Lào, năm viên chức khác, Chủ tịch Hội đồng Thuộc địa của Nam Kỳ, Chủ tịch các Phòng Thương mại tại Sài Gòn, Hà Nội và Hải Phòng, Chủ tịch các Phòng Canh nông của Nam Kỳ và Bắc Kỳ, Chủ tịch Phòng Thương mại và Canh nông hỗn hợp của Trung Kỳ và Căm Bốt, và hai thành viên bản xứ do Toàn quyền chỉ định. Toàn thể Hội đồng nhóm họp mỗi năm một lần, và một điều khoản được đưa ra để thành lập một Ủy hội thường trực nhằm đảm trách các công việc có thể phát sinh giữa hai khóa họp.

Các châu thổ Nam Kỳ và Bắc Kỳ thì màu mỡ. Trung Kỳ, nối liền hai châu thổ, là một dải núi dài, với vùng duyên hải hẹp ở một bên, và một dải đồi dân cư thưa thớt, hoang vu vươn tới sông Mekong ở phía bên kia. Gạo, bông vải, đường mía, hạt giống, thuốc lá, đồ gia vị và cá là các sản phẩm chính của những vùng đất phù sa. Các khoáng sản chính là than đá, có mỏ ở Đà Nẵng (Tourane), trên bờ biển Trung Kỳ, và tại Hòn Gai (Hongay) và Kế Bào (Kebao) trên bờ biển Bắc Kỳ. Các khoáng sản khác, kể cả vàng, bạc, thiếc, đồng, chì… được cho là có hiện hữu tại vùng Bảo hộ. Các hải cảng chính là Hải Phòng tại Bắc Kỳ, Đà Nẵng và Thuận An (cho Huế) tại Trung Kỳ, và Sài Gòn. Khí hậu nói chung nóng và ẩm. Một năm được chia làm hai mùa, mưa và khô.

Ngân sách tổng quát cho năm 1899 là $17.620.000 và các ngân sách địa phương như sau: Bắc Kỳ, $3.993.639; Trung Kỳ, $1.845.835; Nam Kỳ, $4.550.000; Căm Bốt, $1.997.600; và Lào, $692.531; tạo thành số tổng cộng là $30.699.604.

Một khoản cho vay là 200.000.000 francs được các Nghị viện Pháp chấp thuận dành cho việc kiến thiết đường xe lửa tại Đông Dương, và điều khoản cũng được đưa ra về một sự bảo đảm của Chính phủ cho một tuyến dự phòng chạy sang Vân Nam, sẽ được xây dựng bởi một công ty tư nhân. Các tuyến xe hỏa được chấp thuận tại Đông Dương là: 1. Hải Phòng – Hà Nội – Lào Kay; 2. Hà Nội – Nam Định – Vinh; 3. Đà Nẵng – Huế – Quảng Trị; 4. Sài Gòn – Thanhoa [Biên Hòa?] – Langbiang (Lâm Viên); 5. Mỹ Tho – Cần Thơ.

Dân số bao gồm ít nhất 17.000.000 người, phần lớn là người An Nam, sau đó là người Căm Bốt và Lào với dân số tương đương nhau. Số người Trung Hoa vào khoảng 150.000, và người châu Âu hơn 6.000 một chút. Dân Bắc Kỳ to cao và khỏe mạnh hơn dân Nam Kỳ, cũng thông minh và năng động hơn. Người Trung Hoa đã di dân với số lượng lớn vào phía nam Nam Kỳ, nơi họ chiếm hữu gần như độc quyền các ngành công nghiệp và thương mại. Người dân Căm Bốt bản chất thờ ơ, và đã nhường bước cho người Trung Hoa và An Nam. Người Lào và người Mọi, bị trấn áp bởi những người láng giềng, và bởi hệ thống quan lại của họ, thì lười biếng, nhút nhát và hay nghi ngờ. Người Mường, chiếm cứ tất cả lưu vực của sông Đen (River Noire, tức sông Đà) và sông Mã, thì đẹp đẽ và khỏe mạnh hơn người An Nam. Người Nùng (Nuns) giống người Trung Hoa và người Thổ (Thos) thuộc chủng tộc Khmer.

Tổng số lực lượng của quân đội Pháp tại Đông Dương trong năm 1897 là 24.100 quân nhân. Lực lượng có cơ cấu như sau: 3 trung đoàn thủy quân lục chiến, 4.800 binh sĩ; 5 tiểu đoàn lính lê dương  (lính nước ngoài đánh thuê: foreign legion), 3.600; 4 trung đoàn bộ binh bản xứ, 14.100; 6 khẩu đội pháo binh với binh sĩ châu Âu, 800; và phụ lực quân pháo binh (châu Âu), 500. Cũng cần bổ sung vào lực lượng kể trên các binh chủng yểm trợ và cảnh sát, tổng số lên tới 24.500 người, đặt dưới lệnh của một vị tướng cấp sư đoàn và hai chuẩn tướng cấp lữ đoàn. Đông Dương cũng có một lực lượng dân quân bản xứ 10.000 người.

Mậu dịch của thuộc địa đang gia tăng mau chóng, trị giá tăng từ 139.078.174 franc năm 1888 lên 205.231.545 franc năm 1897. Kim ngạch xuất khẩu tăng từ 67.665.437 franc năm 1888 lên 117.048.554 franc năm 1897. Sản phẩm xuất khẩu chính là gạo, có 13.720.824 tạ (piculs) được chở đi trong năm 1897. Kim ngạch nhập khẩu là 39.388.286 franc năm 1888, và đạt 51.922.684 franc năm 1897. Sự gia tăng lớn lao này chủ yếu do hàng hóa nhập cảng từ Pháp, với trị giá tăng từ 9.687.119 franc năm 1888 lên 20.825.931 franc năm 1897, trong khi kim ngạch nhập khẩu từ các nước khác chỉ tăng từ 29.701.167 franc lên 31.096.753 franc. Đối với mặt hàng vải dệt theo khổ tiêu chuẩn (piece goods), món hàng dường như phải chịu quan thuế biểu phân biệt nặng nề nhất, việc mua bán mau chóng bị Pháp chiếm độc quyền. Chính vì thế, trong năm 1888 sản phẩm thuộc loại này từ Pháp chỉ chiếm 1.944.138 franc, thì đến năm 1897 trị giá đã lên tới 10.662.422 franc, trong khi sản phẩm ngoại quốc giảm từ 13.452.917 franc xuống còn 7.248.983 franc.

BẮC KỲ (TONKIN)

Xưa kia là một vương quốc độc lập, nhưng từ năm 1802 trở thành một phần của An Nam, Đông Kinh (Tonkin) tọa lạc giữa 19o và 23o vĩ Bắc, và giữa 102o và 108o30’ kinh Đông, phía bắc giáp Trung Hoa, phía tây giáp Lào, phía nam giáp An Nam, và phía đông giáp Vịnh Bắc Bộ (Gulf of Tonkin). Vùng đất gần biển là một đồng bằng màu mỡ, được nhiều con sông tưới nước dồi dào, và mang lại sản lượng gạo lớn, trong khi mía, bông vải, gia vị, cây chàm, dâu tằm và nhiều sản phẩm khác cũng được nuôi trồng. Bắc Kỳ sở hữu nhiều mỏ khoáng sản có giá trị như bạc, chì, antimon, kẽm, vàng và đồng cũng được biết có hiện hữu. Các đặc nhượng được chuẩn cấp vào năm 1887 cho việc khai thác các mỏ than đá tại Kế Bào và Hòn Gai, và than có phẩm chất tốt từ Hòn Gai giờ đây phần lớn được xuất cảng. Theo bản Hiệp ước Huế, ký ngày 6 tháng Sáu năm 1884, Chính phủ An Nam đặt Bắc Kỳ dưới chế độ Bảo hộ của Pháp, và các hoạt động ở đây được quản trị dưới sự giám sát của các Trú sứ Pháp. Trên thực tế, Bắc Kỳ giờ đây thực sự là một thuộc địa của Pháp. Bắc Kỳ được chia thành 17 tỉnh, bao gồm: Quảng Yên, Hải Dương, Bắc Ninh, Thái Nguyên, Lạng Sơn, Cao Bằng, Tuyên Quang, Hưng Hóa, Sơn Tây, Hà Nội, Ninh Bình, Hưng Yên, Nam Định, Thanh Hóa, Nghệ An, Hà Tĩnh và Bố Chính. Thủ đô Hà Nội là thủ phủ của tỉnh có cùng tên gọi và xuất hiện trên các bản đồ cổ là Kẻ Chợ (Ke-sho). Dân số ước lượng từ 10 đến 12 triệu người. Vài năm trước đây, một đường ray xe hỏa đã được xây dựng từ Phủ Lạng Thương đến Lạng Sơn, một khoảng cách hơn 100km, nhưng nó chỉ khá hơn đường xe điện một chút. Chiều rộng của đường ray này giờ đây được mở rộng từ 60cm lên 1 mét và nối dài xuống Hà Nội, một khoảng cách xa 45km, và một đặc nhượng đã được chuẩn cấp để nối dài hơn nữa từ Lạng Sơn sang tới Long Châu (Lungchow), thuộc tỉnh Quảng Tây của Trung Hoa.

Kim ngạch nhập khẩu của Bắc Kỳ năm 1897 lên tới 31.540.958 franc, trong đó 14.732.857 franc có nguyên gốc từ Pháp, và kim ngạch xuất khẩu là 19.803.948 franc. Khối lượng gạo xuất cảng năm 1897 là 2.263.116 tạ.

Hà Nội

Khu chợ Đồng Xuân trước Tết nguyên đán 1896 (Ảnh: André Salles)

Hà Nội thủ đô của Bắc Kỳ, và nay là thủ phủ của Chính quyền Đông Dương, tọa lạc trên sông Cái, hay sông Hồng, cách cửa sông gần 180km. Thành phố được xây dựng gần con sông, ở đây chiều ngang sông rộng gần đến một dặm, và nhờ các hồ nước và cây cối rải rác, nó phô bày một vẻ đẹp khá ngoạn mục. Thành cổ chiếm giữ điểm cao nhất và được bao quanh bởi một bức tường bằng gạch cao gần 3,7m và một hào nước. Nó gồm các doanh trại dành cho binh sĩ, kho vũ khí, đạn dược, v.v… và một ngôi chùa hoàng gia nằm bên trong tường thành. Phố cổ nằm ở giữa tòa thành và sông, và các đường phố của nó có một dáng vẻ khác lạ nhờ kiến trúc độc đáo của các ngôi nhà. Kể từ khi Pháp chiếm đóng vào năm 1882, đã có những cuộc tu bổ lớn trong việc thiết trí thành phố và tạo lập các con lộ và các đường phố. Khu phố gần con sông nhất dần dần mang dáng vẻ của một thành phố Á Đông lai Pháp. Các phố mới rộng, dài, được trồng cây và thắp sáng bằng điện, đã được xây dựng, trong đó Phố Paul Bert (tên phố Tràng Tiền thời Pháp thuộc – chú thích của ban biên tập, sau đây viết tắt là BBT) là thông lộ buôn bán chính yếu với các cửa hiệu châu Âu và khách sạn, v.v… Tòa thị chính, Bưu điện, Kho bạc, câu lạc bộ và bục hòa nhạc nằm sát Phố Bờ Hồ (Rue de Lac, tức phố Hàng Dầu – BBT). Nhà thờ Lớn, một công trình đồ sộ nhưng xấu xí, với hai tháp cao, tọa lạc tại một con phố nằm phía sau Phố Jules Ferry (phố Hàng Trống – BBT), lại vươn cao ngất ngưởng, dễ nhìn thấy từ phần lớn các nơi trong thành phố. Một bức tượng bằng đồng đẹp đẽ của Paul Bert được dựng tại Công viên đối diện với Hồ Nhỏ (Petit Lac, tức Hồ Gươm, Hồ Hoàn Kiếm – BBT), và được khánh thành vào ngày 14 tháng 7 năm 1890. Hồ Nhỏ là một dải nước nằm giữa thành phố mới, mang lại vẻ đẹp như tranh nhờ các ngôi đền lạ lùng tọa lạc trên các hòn đảo điểm họa cho nó. Các khách sạn khá tốt. Tại thành phố bản xứ này, đường phố được giữ gìn rất tốt và sạch sẽ khi so sánh với phần lớn các thành phố phương Đông. Chúng đều được thắp sáng và khô ráo. Một số ngôi nhà trông rất kỳ lạ và đặc biệt. Về các ngôi đền, ngôi chùa Đại Phật (Grand Buddha, tức đền Quán Thánh – BBT) bên bờ Hồ Lớn (Grand Lac, Hồ Tây – BBT) có lẽ là ngôi chùa quan trọng nhất, bởi nó có một bức tượng lớn bằng đồng của một vị thánh. Một sân Đua Ngựa mới, bắt đầu được đưa vào sử dụng trong năm 1890, được xây dựng ngay bên ngoài thành phố mới. Các dinh thự của viên Toàn quyền và Tư lệnh Quân đội, các văn phòng chính phủ, nhà thương và một số kiến trúc công khác được đặt tại vùng trước đây là “Khu Đặc Nhượng” (Concession) gần bờ sông. Dân số năm 1897 là 102.700 người, trong đó có 950 người châu Âu, 100.000 người An Nam, 1.697 người Trung Hoa, và 42 người Ấn Độ. Có vài tờ báo bằng tiếng Pháp được ấn hành trong thành phố. Các con tàu hơi nước chạy trên Sông Cái đến tận Lào Kai, gần vùng biên cương với Vân Nam, và một nền thương mại quá cảnh đang phát triển. Một đường xe hỏa hiện đang được xây dựng từ Hà Nội đến Phủ Lạng Thương, từ đó có một tuyến chạy đến Lạng Sơn và vùng biên cương Trung Hoa. Một đặc nhượng đã được chấp thuận cho việc nối dài tuyến đường xe lửa đến Long Châu, tỉnh Quảng Tây.

Cung thể thao Quần Ngựa ở thế kỷ 19 là trường đua ngựa

Hải Phòng

Đây là hải cảng vận chuyển tàu biển cho Hà Nội, Hải Dương và Nam Định, các trung tâm thương mại của Bắc Kỳ. Nó tọa lạc tại 20o51’ vĩ tuyến Bắc và 106o42’ kinh tuyến Đông trên cửa sông Cấm (Cửa Cấm), được nối liền với con sông Cái vĩ đại thông đường từ Vân Nam ra tới Vịnh Bắc Việt bởi hai hay nhiều lạch nước. Thành phố Hải Phòng nằm cách hải đăng khoảng 25km. Hải đăng ở cửa vào con sông trên đảo Hon Do [có thể là Đảo Hòn Dấu – BBT], có thể được nhìn thấy ở khoảng cách xa gần 10km. Lối vào hải cảng bị ngăn trở bởi một cồn cát bên ngoài và bùn bên trong. Hải Phòng tuy thế có thể tiếp cận được bởi các tàu có mức chìm từ khoảng 2 đến 2,5m. Sông có rất nhiều nước. Các tàu thả neo cách bờ khoảng 400m tại vùng nước sâu từ 12 đến 18m theo nhịp lên xuống của một lạch nước thông với Sông Cái. Bờ sông thì thấp và chứa bùn phù sa, vì thế thị trấn này cần đến nhân lực và phí tổn rất lớn để khai khẩn.

Hải Phòng tọa lạc ở cả hai bên bờ con lạch nói trên, và nằm giữa một vùng trồng lúa nước trải rộng, bao quanh nhiều dặm bởi đất lầy và thấp, cảnh trí đơn điệu từ đằng xa được phá vỡ bởi các rặng đồi đá vôi thấp lởm chởm; và vượt quá các ngọn đồi này về phía bắc, cách xa khoảng 25km, là một rặng núi, ngọn cao nhất, được biết là Đại Thượng Đỉnh [?] (Grand Summit), có độ cao khoảng hơn 1500m. Phần lớn các kiến trúc bản xứ được xây dựng một cách tồi tàn bằng bùn, tre và rơm, nhưng một thị trấn châu Âu được xây dựng đẹp đẽ với các đại lộ rộng rãi, được thắp sáng bằng điện, đã mọc lên, và đang mau chóng khoác màu sắc của một thành phố thịnh vượng. Khách sạn Thương Mại (Hôtel du Commerce) là một công trình lớn và đẹp đẽ, mái Mansard cao vời của nó chế ngự mọi tòa nhà khác trong thị trấn. Có một nhà thờ thuộc Hội truyền giáo Công giáo La Mã. Một bến đậu nhỏ và một số cầu tàu cùng nhà kho xinh xắn đã được lập. Một vườn hoa công cộng nhỏ, có bục hòa nhạc ở giữa, đã được trải ra một cách ngăn nắp ở cuối Đại lộ Paul Bert (nay là phố Điện Biên Phủ – BBT). Câu lạc bộ Thương mại, một hội được quản trị chu đáo, được đặt trên Đại lộ Paul Bert, nơi cũng tọa lạc Câu lạc bộ Banian [?], một hội giàu có khác. Sân Đua Ngựa nằm cách thị trấn khoảng 1,5km trên đường tới Đồ Sơn. Có một số tờ báo được ấn hành trong trị trấn. Dân số của Hải Phòng năm 1897 là 18.480 người, trong đó 900 là người Âu Châu, 5500 người Trung Hoa, 12.000 người An Nam, 35 người Nhật Bản, và 45 người Ấn Độ. Một tuyến tàu hơi nước chạy trên sông được duy trì giữa Hà Nội và Hải Phòng bởi Công ty Messageries Fluviales. Hải Phòng được nối liền với Sài Gòn và Hongkong bằng đường dây điện tín ngầm dưới nước. Thị trấn này cũng có đèn điện.

TRUNG KỲ (AN NAM)

Vương quốc An Nam, cũng bao gồm cả vương quốc cổ ở Bắc Kỳ, được chinh phục và sáp nhập bởi Vua Gia Long của An Nam năm 1802, phía đông giáp Vịnh Bắc Bộ và Biển Đông, phía tây giáp Xiêm La, Căm Bốt và các bang quốc người Shan (Shan States), phía bắc giáp các tỉnh Vân Nam và Quảng Tây của Trung Hoa, và phía nam giáp Nam Kỳ (Cochin-China). Nó được đặt dưới sự bảo hộ của Pháp. An Nam là một dải đất hẹp nằm giữa biển và núi, lãnh thổ vượt quá nó bị chiếm ngụ bởi các bộ lạc bản địa thực sự độc lập. An Nam đối với Bắc Kỳ, trong cách nói của dân bản xứ, như vòng thắt eo lưng của chiếc áo chẽn, mà chiếc áo này là một lãnh thổ to rộng và phì nhiêu. An Nam là một vùng đất tương đối nghèo, lệ thuộc một phần vào sự tiếp tế lúa gạo từ Bắc Kỳ. Dân số An Nam không biết chắc, nhưng kể cả Bắc Kỳ, có thể ước lượng vào khoảng 20 triệu. Vua Thành Thái, lên ngôi năm 1897. Kim ngạch nhập cảng của An Nam năm 1897 lên tới 4.719.349 franc, và kim ngạch xuất cảng là 2.552.919 franc.

Huế

Huế, kinh đô của vương quốc An Nam, tọa lạc bên một dòng sông nhỏ, tàu bè lớn hiếm khi có thể qua lại được, mang tên là Trường Tiền, và được người Pháp gọi là sông Huế, đổ ra biển ở khoảng 16o29’ vĩ tuyến Bắc và 107o38’ kinh tuyến Đông. Huế là một thành phố có tường thành bao quanh và được xây cất theo các đường nét tương tự như một thị trấn châu Âu được gia cố phòng thủ của thế kỷ XVII. Nó bao gồm hai phần – thành phố chính và các khu phụ cận. Thành phố chính đặt giữa một hòn đảo vuông vắn, phân cách với các vùng phụ cận ở ba mặt bởi một con sông và mặt thứ tư bởi một kênh đào. Nó được phòng vệ bởi một hàng rào công sự có chu vi 6km, được xây cất bởi các kỹ sư người Pháp theo thiết kế Vauban, và có sáu cổng lớn. Bên trong hàng rào này là nơi tất cả các quan chức chính quyền cư ngụ. Các bức tường được xây bằng gạch và rất cao. Bên trong hàng rào vòng ngoài là tòa thành, được xây tương tự nhưng ít gia cố hơn, và có tám thay vì sáu cổng. Văn phòng của Lục Bộ, cũng như Thư viện, Quốc Tử Giám, các Tòa án Tư pháp, Khâm Thiên Giám, và nhiều doanh trại và kho vũ khí khác nhau, đều nằm trong khu vực này. Dinh của Hội đồng Nhà nước (Council of State) và nhiều công thự khác, tất cả đều là các cơ quan chính thức, nằm bên trong hàng rào thứ nhì. Đằng sau các tòa nhà này là một bức tường bằng gạch, băng ngang qua suốt tòa thành, chia nó hoàn toàn thành hai phần. Bức tường này, bao quanh các cung điện hoàng triều và hậu cung, có ba cổng; cổng trung tâm có kiến trúc giống như một ngôi chùa, được thếp vàng và tô điểm với những nét chạm khắc tỉ mỉ. Tuy vậy, phần lớn các ngôi nhà và ngay cả các công thự tại Huế rất tầm thường và cần sửa chữa nhiều. Cung điện Hoàng gia, giống như cung điện tại Bắc Kinh, được lợp mái màu vàng, còn mái nhà của các quý tộc có màu đỏ. Dân số của thành phố và các vùng ngoại ô được ước lượng là 100.000 người, trong đó có 800 người gốc Trung Hoa. Những người châu Âu duy nhất là viên Trú sứ Pháp, nhân viên của ông ta, và lực lượng phòng vệ, gồm 300 lính Pháp. Cửa sông Huế được phòng vệ bởi các đồn quân sự đã bị Pháp chiếm giữ hồi tháng 8 năm 1883, khi Chính quyền Huế đầu hàng tức thời.

Lăng Minh Mạng cuối thế kỷ 19, đầu thế kỷ 20

CÁC TỈNH CỦA AN NAM

Đà Nẵng (Tourane)

Hải cảng Đà Nẵng tọa lạc khoảng 65km về phía đông nam của Huế, kinh đô của An Nam, nhưng do Cồn Cát Thuận An, nó chỉ có thể được tiếp cận bằng đường biển bởi tàu lớn trong vòng sáu tháng mỗi năm, từ cuối tháng 3 đến cuối tháng 9. Đường bộ từ Huế, dài khoảng 110km, xuyên qua đèo của rặng núi Mây (Hải Vân) và là một con đường dễ đi lại cho người dùng ngựa hay đi bộ. Khu vịnh rộng lớn của Đà Nẵng được bao quanh bởi các ngọn đồi và cung cấp chỗ thả neo cho những chiếc tàu lớn nhất. Các phương tiện vận tải của chính phủ, và các tàu chạy bằng hơi nước của Công ty Hàng hải Quốc gia (Compagnie Nationale de Navigation) và công ty Messageries Maritimes tìm thấy một nơi thả neo ở đây trong mọi tình huống thủy triều lên xuống và trong mọi thời tiết. Sông Đà Nẵng, bắt nguồn từ các ngọn núi phía bên trong nội địa, đổ ra Vịnh. Chỉ có thuyền nhỏ hay thuyền buồm mới có thể vận hành trên sông, kết nối giao thông với các tỉnh Quảng Nam và Quảng Ngãi. Thị trấn được xây dựng đàng hoàng, trải dài khoảng hơn 3km dọc theo tả ngạn con sông. Nó có nhiều công thự, bao gồm Tòa Trú Sứ Pháp, một Bệnh viện Quân đội xinh xắn, các doanh trại rộng rãi và thoáng khí, Sở Hải quan, Kho bạc, Bưu điện và các Văn phòng Thị chính, cũng như một số cơ sở kinh doanh được sắp đặt ngay ngắn, trong đó có thể nói đến Ngân hàng Đông Dương, Ty trồng Nha phiến (Opium Farm), văn phòng công ty Messageries Maritimes, Khách sạn Gassier, Khách Sạn Courbet… Các ngôi chợ rộng lớn được xây bằng gạch và đá, gồm vài trăm quầy hàng. Bên hữu ngạn con sông cũng có một số tòa nhà, nằm trong khu đặc nhượng của người Pháp. Một xưởng lụa được thiết lập ở đó. Đi bộ khoảng 25 phút từ khu vực này dẫn đến làng Mỹ Khê, cũng là tên của bãi biển đẹp đẽ được dân châu Âu ưa chuộng. Mậu dịch của Đà Nẵng thì đáng kể, và mỗi tháng có nhiều tàu chạy bằng hơi nước đến từ Hồng Kông, khi quay trở về chất đầy hàng hóa như đường mía, mây, tre, hạt cau, lụa, quế (cassia)… Các công ty Messageries Maritimes và Compagnie Nationale de Navigation có đại lý tại Đà Nẵng, và tàu của các công ty này, cùng với các tàu đến từ Hồng Kông, mang lại tổng số khoảng một tá tàu cập cảng mỗi tháng. Ngoài các tàu này, một số lượng lớn các thuyền buồm đi biển từ Trung Hoa, Hải Nam, và các hải cảng của An Nam, Bắc Kỳ, và Nam Kỳ mua bán nhộn nhịp các sản phẩm của xứ sở. Trà, cà phê và cây dâu tằm được canh tác trên quy mô lớn tại vùng lân cận, và có nhiều đồn điền do người châu Âu sở hữu. Cách thị trấn chưa tới một tiếng đồng hồ đi thuyền là những Ngọn Núi Đá Cẩm Thạch (Ngũ Hành Sơn – BBT), một địa điểm được du khách chú ý, họ không thể nào đi ngang qua Đà Nẵng mà lại không ghé thăm chúng. Dân số của Đà Nẵng năm 1897 là 4650, trong đó có 100 người châu Âu, 50 người Trung Hoa, và 4500 người An Nam.

Qui Nhơn

Qui Nhơn mở cửa cho ngoại thương chiếu theo hiệp ước giữa Pháp và An Nam ký vào tháng 3 năm 1874. Nó tọa lạc bên bờ biển An Nam ở khoảng 13o54’ vĩ tuyến Bắc và 109o20’ kinh tuyến Đông. Lối vào hải cảng bị ngăn trở bởi một cồn cát, tuy nhiên bất kỳ tàu nào có mức chìm không quá 4,8 đến 5m vẫn có thể băng qua được. Các sản phẩm xuất khẩu chính là muối, lụa, nhiễu, các hạt đậu, dầu và bánh đậu phộng, đường mía, v.v… Dân số của tỉnh là một triệu người; trong đó của hải cảng là 3000 người, gồm cả 20 người Pháp dân sự. Vùng đất được trồng trọt tốt, và các tiềm năng thương mại của hải cảng được cải thiện mỗi năm. Một nền mậu dịch đáng kể đang diễn ra, chủ yếu là với Hongkong, Hải Phòng, Sài Gòn, Singapore, và Bangkok. Hoạt động mậu dịch hiện giờ chủ yếu nằm trong tay người Trung Hoa.

NAM KỲ (COCHIN-CHINA)

Nam Kỳ là thuộc địa của Pháp. Tỉnh Gia Định, trong đó Sài Gòn là hải cảng chính, bị hạm đội Pháp-Tây Ban Nha chinh phục vào ngày 17 tháng 2 năm 1859, nhưng Miền Hạ Lưu Nam Kỳ (Lower Cochin-China) (bao gồm các tỉnh Gia Định, Biên Hòa, Mỹ Tho, và đảo Côn Sơn) chưa thực sự bị chiếm đóng cho đến năm 1862, khi nó được chính thức chuyển nhượng theo hiệp ước. Năm 1867, ba tỉnh nữa bị người Pháp chinh phục và bổ sung vào phần sở hữu của họ, tức các tỉnh Châu Đốc, Hà Tiên và Vĩnh Long. Các ranh giới thực sự của Nam Kỳ giờ đây như sau: ở phía Bắc là các vương quốc An Nam và Căm Bốt, ở phía Đông và Nam là Biển Đông, ở phía Tây là Vịnh Xiêm La và Căm Bốt.

Ga Mỹ Tho năm 1905. Đường sắt Sài Gòn – Mỹ Tho là tuyến đường sắt đầu tiên của Việt Nam cũng là tuyến đường sắt đầu tiên của Đông Dương, được xây dựng vào năm 1881.

Thuộc địa Nam Kỳ được chia thành bảy tỉnh lớn, bao gồm cả thảy 21 khu thanh tra. Ngoài Sài Gòn, thủ đô của Nam Kỳ, đồng thời là thủ phủ của tỉnh Gia Định, các thị trấn chính yếu khác mang tên tỉnh tương ứng của chúng, tức Biên Hòa, Mỹ Tho, Châu Đốc và Hà Tiên. Lãnh thổ là một đồng bằng bao la với các ngọn đồi nhỏ ở phía Tây và một số ngọn núi ở phía Đông và phía Bắc; ba ngọn núi cao nhất là Batlen [?] cao 884 mét, Baria 493 mét, và các núi Mai [?] cao 550 mét và 600 mét. Các con sông chính là hai sông Vaico (có lẽ là sông Vàm Cỏ? – BBT), sông Sài Gòn, và sông Đồng Nai. Các phần thuộc hạ lưu Nam Kỳ được chia cắt bởi các lạch nước nhỏ hay các con kênh giúp cho mọi miền của lãnh địa được giao thông dễ dàng và mau lẹ. Nhiều kênh đào mới được khai mở gần đây. Con sông Mekong hùng tráng, đổ xuống từ các ngọn núi ở Tây Tạng, sau khi chảy xuyên qua các lãnh thổ khác nhau, băng ngang Căm Bốt, chia hai nhánh tiến vào các tỉnh hạ lưu của Nam Kỳ, và đổ ra biển Đông ở năm [sic] cửa sông lớn được gọi lần lượt là Cửa Tiểu, Cửa Ba Lai, Cửa Cổ Chiên, Cửa Định An và Cửa Ba Tắc.

Sản phẩm chính của Nam Kỳ là gạo. Lúa gạo được trồng tại hầu hết mọi tỉnh trừ một vài quận ở phía bắc. Sau loại ngũ cốc quan trọng này, các sản phẩm chính là mía đường, dâu tằm, hạt tiêu, hạt cau, bông vải, thuốc lá, và ngô. Tảo đỏ (china-grass), vừng, cây thầu dầu, cây chàm, cây nghệ (saffron), cánh kiến, gỗ vang, và cây canh-ki-na cũng hiện diện với số lượng khá lớn, cùng với nhiều loại sản phẩm ít quan trọng khác.

Các mỏ muối chính nằm tại tỉnh Bà Rịa. Các khu rừng chứa khối lượng lớn gỗ tốt, và có gần đủ mọi loại thú vật để tha hồ săn bắn, trong số đó có thể kể đến voi, tê giác, hổ, nai, heo rừng, linh dương, các con vật có lông vũ có thể kể đến công, gà gô, chim mỏ nhác, chim rẽ gà, gà rừng hay gà hoang, gà lôi… Các con sông và các lạch nước nhung nhúc cá đủ loại và một số sông rạch còn còn có nhiều cá sấu.

Tại các thủ phủ của mỗi tỉnh đều có một tòa thành có binh sĩ đồn trú đầy đủ, và nhiều đồn quân sự trong nội địa bảo vệ an ninh của người dân. Người An Nam là một chủng tộc dành sức chính yếu cho nghề nông; họ không chịu khó như người Trung Hoa và thờ ơ với việc buôn bán. Người Trung Hoa nắm giữ tỷ lệ lớn nhất các hoạt động mậu dịch.

Toàn thể các thuộc địa Pháp giờ đây được tập hợp dưới danh xưng Đông Dương (Indo-China), bao gồm thuộc địa Nam Kỳ (Cochinchina) và các xứ bảo hộ Bắc Kỳ (Tonkin), Trung Kỳ (An Nam) và Căm Bốt [và Lào], và được đặt dưới sự kiểm soát của viên Toàn Quyền, thường cư trú tại Bắc Kỳ. Chính phủ Nam Kỳ do một viên Phó Toàn Quyền điều hành, với sự trợ giúp của một Cơ Mật Viện (Privy Council), bao gồm tất cả các vị lãnh đạo các bộ là các thành viên chính thức cùng nhiều thành phần không chính thức khác. Hội đồng Thuộc địa Nam Kỳ, một số hội viên do dân bầu, gồm 16 thành viên, sáu người trong đó là người bản xứ. Các thành phố Sài Gòn và Chợ Lớn được cai trị bởi các Hội đồng Thành phố, với các thành viên của Hội đồng một phần là người Pháp và phần kia là người bản xứ. Phòng Thương mại tại Sài Gòn cũng là một cơ quan chính thức được tuyển chọn bởi các thương nhân và các nhà mậu dịch. Trước kia nó bao gồm người Pháp, các ngoại kiều và người Trung Hoa, nhưng năm 1896 hiến chương của nó được thay đổi, và giờ đây nó chỉ còn người Pháp thôi.

Dân số của Nam Kỳ năm 1897 là 2.126.935, trong đó có 1.860.872 người An Nam, 172.231 người Căm Bốt, 74.210 người Trung Hoa, 4490 người Âu Châu (không kể các binh sĩ) và phần còn lại là người Ấn Độ, Mã Lai, và người Thượng.

Kim ngạch nhập khẩu của Nam Kỳ và Căm Bốt gộp chung năm 1897 là 51.922.684 franc, trong đó 20.825.931 franc là của hàng hóa gốc từ Pháp, và kim ngạch xuất khẩu là 94.691.687 franc. Lượng gạo xuất cảng năm 1897 là 10.555.804 tạ, và năm 1898 là 11.277.770 tạ. Số tàu của tất cả các nước đi qua Sài Gòn trong suốt năm 1898 là 351 chiếc, với trọng tải 443.655 tấn; cộng thêm các tàu chạy bằng hơi nước của các công ty Messageries Maritimes, Messageries Fluviales, và Compagine Nationale, tổng số là 541 tàu và trọng tải là 714.875 tấn. Các tàu của Anh Quốc chiếm 155 chiếc, với trọng tải là 215.735 tấn, hay khoảng một nửa trọng tải được thuê vận chuyển.

Sài Gòn

Sài Gòn, thủ đô của Nam Kỳ, tọa lạc bên sông Sài Gòn, một nhánh của sông Đồng Nai, ở 10o50’ vĩ tuyến Bắc và 104o22’ kinh tuyến Đông. Nó cách Vũng Tàu [Cape St. James trong tiếng Anh, Cape St. Jacques trong tiếng Pháp – ND] hơn 60km và có thể được tiếp cận bởi những chiếc tàu lớn nhất. Kể từ khi Pháp chiếm đóng, cảnh quan ở đây đã biến đổi tích cực, nhờ ở các công trình vệ sinh khác nhau trong thị trấn, chẳng hạn như các ống thoát nước, việc san lấp các ao hồ, đầm lầy… Thị trấn khoe dáng vẻ xinh đẹp, các đường lộ và lối đi được mở rộng và sắp đặt ngăn nắp. Trong số các công thự, Dinh Chính Phủ là đáng kể nhất; nhiều triệu đồng franc đã được chi tiêu cho việc xây dựng và trang trí tòa nhà này. Các công thự nổi bật khác là Dinh mới của viên Phó Toàn Quyền, Trụ sở Bưu điện mới và đẹp đẽ tại Quảng trường Thánh Đường, Nhà Quan Thuế, “Nha Nội Vụ”, Kho bạc, Văn phòng Điền thổ, Ban Công Chánh, các trường học, và Tòa án Tối cao. Bệnh viện Quân đội là một kiến trúc đẹp và tốt, cũng như Kho Vũ khí, các doanh trại, và Công viên Pháo binh. Cũng có một Thánh Đường kiểu Gô Tích trang nghiêm đồ sộ. Một bức tượng bằng đồng xinh đẹp của Gambetta được đặt trên Đại lộ Norodom. Sài Gòn có hai công viên, “Vườn Thành Phố” (Jardin de la Ville) được bảo dưỡng với phí tổn của Thành phố, và “Vườn Bách Thảo” (Botanical Garden). Có chỗ cho tàu cập bến tốt, Bến tàu Bassin de Radaub là một trong các bến tàu tốt nhất trên thế giới, có khả năng tiếp nhận các chiến thuyền lớn nhất, và có hai dàn nâng tàu nổi. Có hai nhà máy xay lúa chạy bằng hơi nước. Dân số Sài Gòn năm 1897 là 32.561 người (chưa kể các lực lượng Hải quân và Quân đội, khoảng 1200 đến 1500 người). Dân số người Pháp là 1753 người và 207 người châu Âu khác.

Các tàu hơi nước của hãng M. M. ghé bến Sài Gòn hai lần mỗi tháng trên các chuyến hải hành đi và về. Việc truyền tin giữa các thị trấn chính trong nội địa diễn ra khá dễ dàng nhờ các tàu chở thư chạy bằng hơi nước được trợ cấp, và có một đường xe lửa chạy đến Mỹ Tho. Tất cả các thị trấn chính yếu của Nam Kỳ đều có thể truyền tin bằng điện tín, một đường dây cáp ngầm dưới nước nối liền thuộc địa này với Singapore, Hongkong, Hải Phòng… Tổ chức bưu điện của thuộc địa này rất đầy đủ và hữu hiệu; thư tín có thể được gửi đi hàng ngày đến hầu hết mọi phần của xứ sở. Tờ Công Báo (Journal Officiel) được phát hành hai số mỗi tuần, và thường có một hay hai tờ báo khác được ấn hành, nhưng chúng thường xuyên thay đổi tựa đề, dẫn đến sự hiện diện không liên tục. Tờ Gia Định Báo là ấn bản bản xứ của tờ Công Báo.

Chợ Lớn

Chợ Lớn – Rạch Bến Nghé khoảng năm 1870 (Ảnh: Emile Gsell)

Thị trấn này, cách Sài Gòn hơn 6km, được nối với Sài Gòn bằng hai đường xe điện hơi nước, là địa điểm của phần lớn mậu dịch Trung Hoa tại thuộc địa này. Chợ Lớn có thể nói là vựa lúa gạo của Nam Kỳ, và là địa điểm của nhiều hoạt động thương mại. Phần lớn các nhà máy xay lúa tọa lạc nơi đây, không dưới sáu nhà máy vận hành bằng hơi nước, và có vài nhà máy làm gạch lớn. Thị trấn, giống như Sài Gòn, có một Hội đồng Thành phố, bao gồm một phần người Pháp, phần kia là người An Nam và Trung Hoa. Dân số vào năm 1897 là 67.712 người.

NguồnSmith D. Warres, chương về Indochina, European Settlements in The Far East, New York: Charles Scribner’s Sons, 1900, các trang 221-238.


Nguồn: Viện Nghiên Cứu Phương Đông


*

Bình luận